TN.Diệu Huệ
Sau khi thành đạo, Đức Phật đã đem giáo pháp giáo hóa khắp nơi. Một hôm, Ngài dừng chân ở La Duyệt Kỳ. Trong đó có bốn vị đại đệ tử.
Khi ấy, Tăng đoàn gồm Đức Phật và 500 Tỳ-kheo dừng lại ở thành La Duyệt; một hôm, bốn vị tôn giả: Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, A-na-luật và Tân-đầu-lô ngồi lại với nhau, bàn xem trong thành này, ai là người đáng được hóa độ, để đem công đức dâng lên Đức Phật. Sau khi quán sát, cả bốn vị nhất trí hai anh em trưởng giả Bạt-đề đúng lúc đáng được hóa độ. Bốn vị đồng ỳ sẽ giáo hóa Bạt-đề trước, rồi sau đó giáo hóa đến cô em Nan-đà. Việc hóa độ Bạt-đề do ba tôn giả: A-na-luật, Ca-diếp, Mục-kiền-liên; còn tôn giả Tân-đầu-lô lãnh phần hóa độ Nan-đà.
Gia đình Bạt-đề gồm hai anh em: Anh là trưởng giả Bạt-đề, giàu có lớn, trong nhà chẳng thiếu vàng bạc trân bảo cùng voi ngựa, xe cộ, tôi tớ. Em gái là Nan-đà cũng giàu có không kém gì anh.
Nhà hai anh em đều có bảy lớp cửa, mỗi cửa đều cắc người canh giữ, không cho bất cứ ai vào khất thực. Phía trên sân nhà đều có giăng lưới sắt không cho chim chóc bay xuống sân nhặt nhạnh thóc gạo rơi rớt. Tại sao hai anh em lại làm như thế? Là vì họ đều có tánh tham lam keo kiệt, không chịu bố thí. Họ lại còn chấp chặt tà kiến: không có bố thí, chẳng có người nhận; không có quả báo lành dữ đời này, đời sau, chẳng có quả A-la-hán, lại cũng chẳng có người thủ chứng...
Sáng hôm sau, trưởng giả Bạt-đề đang dùng bánh đểm tâm thì tôn giả A-na-luật cũng đến giờ, đắp y mang bát, đến nhà trưởng giả, dùng thần thông hiện ra trước mặt Bạt-đề, chìa bát khất thực. Bạt-đề tuy bực nhưng cũng lấy một miếng bành nhỏ đạt vào bát tôn giả, A-na-luật nhận bánh xong, biến mất, trở vế trú xứ. Trưởng giả liền hỏi người giữ của:
- Ta đã ra lệnh không cho ai vào, tại sao lại để ông Sa-môn ấy vào được đây.
Người giữ cửa thưa:
- Con đã đóng chặt cửa, không biết vị Đạo sĩ kia đã theo lối nào mà vào!
Trưởng giả làm thinh, tiếp tục bữa ăn. Lúc ấy tôn giả Đại Mục-kiền-liên đắp y mang bát đến nhà trưởng giả, cũng dùng thần thông hiện ra trước mặt Bạt-đề, chìa bát khất thực. Bạt-đề càng thêm bực, nhưng cũng lấy một ít thức ăn đặt vào bát ngài Ca-diếp. Tôn giả nhận xong liền biến mất, trở về trú xứ. Trưởng giả lại la rầy người giữ cửa, người này cũng thưa không biết vị Sa-môn từ đâu vào nhà khất thực!
Trưởng giả bực nói:
Mấy cái ông Sa-môn đầu trọc này khéo dùng ảo thuật mê hoặc người đời, chẳng có tư cách gì cả!
Từ nảy giờ, vợ trưởng giả đang ngồi quán sát cách đấy không xa. Bà này là em gái trưởng giả Chất-đa, từ Ma-sư-sơn về đây, có lòng chánh tín đối với Tam bảo, nghe chồng phỉ bán Sa-môn, bà liền lên tiếng khuyên can:
- Ông nên cẩn thận giữ lời, đừng nói Sa-môn chuyên dùng ảo thuật mê hoặc người đời. Ông nên biết, các vị Sa-môn này có oai thần lớn. Sở dĩ các vị đến nhà khất thực là vì lợi ích lớn cho nhà ta đấy. Ông có biết vị Tỳ-kheo đến trước là ai không?
Trưởng giả đáp:
- Tôi không biết ông ta.
Vợ trưởng giả nói:
- Ông ạ! Ông từng nghe danh vương tử A-na-luật con vua Hộc Phạn nước Ca-tỳ-la-vệ? Lúc bà mẹ sinh ra vương tử, mặt đất chấn động sáu lần, xung quanh nhà, trong khoảng một do-tuần kho báu ẩn trong lòng dất đều tự xuất hiện.
Trưởng giả bảo:
- Tôi có nghe danh ông A-na-luật nhưng chưa bao giờ gặp ông ấy.
Vợ nói:
- Vị tôn giả con nhà hào tộc này đã bỏ nhà xuất gia học đạo, tu phạm hạnh, đã đắc quã A-la-hán, Thiên nhãn đệ nhất trong hàng đệ tử Phật, được Đức Phật công nhận như thế. Còn vị Tỳ-kheo thứ hai vừa đến khất thực, ông có biết không?
Trưởng giả đáp:
- Tôi cũng không biết ông ấy.
Vợ nói:
- Ông đã từng nghe tên đại Phạm chí tên Ca-tỳ-la ở thành La-duyệt này, giàu có không thể tính kể. Chỉ nói trâu cày, ông ấy có đến 999 con đấy!
Tôn giả Bạt-đề chợt reo lên:
- Tôi đã chính mắt thấy vị Phạm chí này rồi!
Vợ nói:
- Con ông Phạm chí đó tên Tỳ-bà-la-da-đàn-na có thân màu vàng ròng. Có vợ tên Bà-đà cũng có thân vàng ròng, đẹp trội hơn hết trong hàng con gái.
Trưởng giả nói:
- Tôi cũng có nghe vị phạm chí này có người con tên Tỳ-bà-la-da-đàn-na nhưng chưa hề thấy mặt người con này.
Vợ đáp:
- Vị Tỳ-kheo lúc nảy đến khất thực sau chính là Tỳ-bà-la-da-đàn-na đấy! Tôn giả bỏ vợ quý như ngọcï nữ, xuất gia học đạo, nay đã đắc quả A-la-hán. Bao nhiêu hạnh đầu đà tôn giả đều có đầy đủ. Đức Thế Tôn cũng cho tôn giả là Tỳ-kheo hành đầu đà đệ nhất trong hàng đệ tử của Ngài. Nay ông sắp được lợi lành, mới khiến người hiền thánh đến nhà khất thực. Tôi đã quán thấy điều này rồi nên mới khuyên ông khéo giữ miệng, đừng phỉ bán bậc hiền thánh, cho là họ làm trò huyễn hóa. Các đệ tử của Đức Thích Ca đây đều có đức thần cả.
Trong lúc ấy, tôn giả Đại Mục-kiền-liên đắp y mang bát bay lên không trung đến nhà trưởng giả, phá rơi lưới sắt, rồi ngồi kiết gia ngay trên không trung. Trưởng giả Bạt-đề thấy thế sợ hãi, vội hỏi:
- Ông là Trời ư?
Tôn giả Mục-kiền-liên đáp:
- Ta chẳng phải Trời.
Trưởng giả hỏi:
- Ông là Càn-thát-bà ư?
- Ta chẳng phải Càn-thát-bà.
- Thế ông là quỷ à?
- Ta chẳng phải quỷ.
- Vậy ông là quỷ la-sát ăn thịt người?
- Ta chẳng phải quỷ la-sát ăn thịt người.
- Vậy ông tên là gì, xin cho tôi được biết.
Lúc ấy, tôn giả dùng kệ đáp:
Chẳng phải Càn-thát-bà
Chẳng phải quỷ la-sát
Ta chỉ là con người,
Ba cõi được giãi thoát,
Hàng phục được ma quân,
Đắc thành vô thượng giác.
Thầy ta: Phật Thích Ca
Mục-liện: tên ta đây.
Nghe xong bài kệ, Bạt-đề liền hỏi:
- Tỳ-kheo muốn dạy tôi điều gì?
Tôn giả đáp:
- Ta muốn nói pháp cho ông nghe, ông hãy khéo nghĩ suy nhớ lấy.
Bạt-đề lại nghĩ: Các ông Đạo sĩ này suốt đêm mơ tưởng đến ăn với uống. Như bây giờ muốn bàn luận với ông ta thì nên bàn về chuyện ăn uống. Nếu ông ta theo ta xin ăn, ta sẽ không cho. Nhưng rồi, Bạt-đề lại nghĩ: Nhưng bây giờ, ít nhiều gì ta cũng phải để cho người này nói cái đã.
Tôn giả Mục-kiền-liên biết hết những nghĩ suy trong lòng trưởng giả liền nói kệ rằng:
Đức Phật nói hai thí:
Pháp thí và tài thí
Nay ta nói pháp thí
Phải chuyên lòng lắng nghe.
Bạt-đề nghe tôn giả nói về pháp thí thì vui mừng nói:
- Mong sao lúc tôn giả diễn nói, tôi nghe sẽ hiểu được.
Tôn giả Mục-kiền-liên bảo:
- Trưởng giả nên biết: Đức Như Lai nói có năm việc đại thí, phải trọn đời ghi nhớ để thực hành.
Bạt-đề liền nghĩ: Sao lúc này ông ta sắp nói về pháp thí, bây giờ lại nói có năm đại thí??
Tôn giả biết Bạt-đề thắc mắc điều đó nên lại nói:
- Đức Như Lai nói có hai loại đại thí đó là pháp thí và tài thí. Nay ta sẽ nói về pháp thí, không nói tài thí.
Bạt-đề lại ngắt ngang, hỏi
- Năm đại thí là gì?
Tôn giả đáp:
- Một là không được sát sinh; đây gọi là đại thí. Hai là không được trôm cướp; đây gọi là đại thí. Không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Như thế, tất cả có năm đại thí, ông nên ghi nhớ mà hành trì.
Bạt-đề nghe những lời tôn giả nói, hết sức vui mừng, nghĩ rằng: những gì Phật nói rất là vi diệu. Giờ đây, những gì tôn giả diễn nói lại cũng không đá động gì đến của cải báu vật. Như ta nay, đâu có sát sinh; điều này ta cũng có thể làm được. Lại nữa, nhà ta thiếu gì tiền bạc, của báu, ta chẳng bao giờ trộm cắp của ai, điều này ta cũng làm được. Trong nhà ta có biết bao gái đẹp nõn nà, ta cũng sẽ không bao giờ tà dâm với kẻ khác; điều này ta cũng làm được. Ta lại cũng chẳng ưa người khác nói láo, huống chi lại tự mình nói láo ư? Điều này ta cũng làm được. Còn như ta bây giờ, lòng không nghĩ tưởng đến rượu, huống chi tự uống; điều này ta cũng làm được nốt.
Bạt-đề vui mừng nói với tôn giả:
- Năm điều đại thí nay tôi đều có thể làm.
Đến đây, trưởng giả chợt nghĩ nên cúng dường tôn giả bữa cơm, liền ngước mặt lên nói với tôn giả:
- Xin ông thâu thần, hạ cố xuống đây ngồi.
Tôn giả nghe tiếng mời liền xuống ngồi trên tòa đã trãi sẵn.
Bạt-đề đích thân mời tôn giả đủ các thức ăn thịnh soạn. Trong khi tôn giả ăn xong, rửa tay, thì Bạt-đề lại nghĩ nên cúng tôn giả xấp vải. Nghĩ xong, ông ta liền vào kho chọn lựa. Ý ông muốn cúng xấp xấu mà cứ chọn trúng xấp đẹp; càng lựa chọn càng lấy nhẫm những xấp đẹp hơn. Cứ bỏ xuống lại lấy lên... lúc ấy, tôn giả biết những diễn biến trong lòng Bạt-đề, liền nói kệ rằng:
Cho, mà lòng đấu tranh
Phước này, người hiền bỏ
Thí mà không đấu tranh
Theo thời, tuỳ tâm thí.
Bạt-đề nghe qua lời kệ, biết tôn giả đã rõ thấu những suy tính thiệt hơn trong lòng mình, liền cầm xấp vải trắng dâng cúng tôn giả, tôn giả liền chú nguyện cho ông ta:
Quan sát thì là nhất
Biết có bậc hiền thánh
Thí càng thêm tối thượng
Ruộng tốt sinh quả tốt.
Trong khi tôn giả chú nguyện xong, thọ nhận xấp vải trắng thì Bạt-đề ngồi xuống một bên. Tôn giả Mục-kiền-liên lần lược nói cho Bạt-đề nghe đủ các pháp diệu màu: bố thí, trì giới, pháp Tứ Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Bạt-đề nghe xong đắc pháp nhãn tịnh rồi lại tiếp tục đắc pháp kiến, không còn nghi ngờ. Bạt-đề lại thọ năm giới, lại tự qui Phật, Pháp, Tăng. Thấy vậy, tôn giả liền nói bài kệ này:
Các kinh Như Lai nói
Đều đầy đủ căn nguyên
Mắt tịnh không tỳ vết
Nghi nan, do dự gì.
Đến đây, Bạt-đề bạch cùng tôn giả: Từ nay trở đi, xin tôn giả luôn nhận lời thỉnh của con. Con cũng sẽ cúng dường bốn bộ chúng đầy đủ áo mền, ăn uống, giường nằm, thuốc thang... không chút luyến tiếc.
Tôn giả Mục-kiền-liên nói pháp cho Bạt-đề xong, liền đứng dậy ra về.
Trong khi đó hai Đại thanh văn: Ca-diếp và A-na-luật thì đi báo cho tôn giả Tân-đầu-lô:
- Chúng tôi đã độ được trưởng giả Bạt-đề, bây giờ đến phiên tôn giả hàng phïc cô em Nan-đà.
Tôn giả Tân-đầu-lô đáp:
- Việc đó dễ thôi!
Lúc bây giờ, Nan-đà đang làm bánh. Tôn giả Tân-đầu-lô đến giờ, đắp ý mang bát vào thành La-Duyệt khất thực, đi gần đến nhà bà ta, liền dùng thần thông hiện ngay ra trước mặt Nan-đà rồi duỗi tay cầm bát khất thực. Nan-đà vừa thấy vậy liền nỗi giận, mắng xối xả:
- Này Tỳ-kheo, dù ông đứng ngó có lòi mắt ra, tôi vẫn không cho ông ăn đâu!
Theo lời rủa, lạ thay! cặp mắt tôn giả lòi ra. Thấy vậy, Nan-đà càng tức giận gấp bội, mắng:
- Cho dù ông có treo ngược trong không trung, tôi cũng không cho ông ăn đâu!
Theo lời thách thức, tôn giả lại dùng sức Tam-muội, tự treo ngược trên không, Nan-đà lại bảo:
- Cho dù toàn thân ông có ra khói, tôi cũng không cho.
Tôn giả lại dùng sức Tam-muội khiến toàn thân bốc khói. Bà ta càng thêm tức tối, liền nói:
- Cho dù toàn thân ông có bốc cháy, tôi cũng chẳng thềm cho.
Tôn giả liền dùng Tam-muội khiến toàn thân thể cháy rực. Thấy thế, bà bảo:
- Cho dù cả người ông ra nước tôi cũng không cho.
Tôn giả lại dùng sức Tam-muội khiến toàn thân ra nước, bà ta lại nói:
- Cho dù ông có chết ngay trước mặt tôi, tôi vẫn cũng chẳng cho ông ăn.
Bổng nhiên tôn giả ngã xuống đất, không thở ra hít vào, chết ngay trước mặt bà ta. Nan-đà thấy tôn giả tắt thở thì bắt đầu hoảng kinh, nghĩ thầm, cái ông Sa-môn Thích tử này là người học cao hiểu rộng, được Quốc vương tôn kính. Nếu nhà vua nghe ông ấy chết tại nhà ta, ta sẽ bị lôi thôi việc quan, không sao gở được. Nghĩ vậy, bà ta liền lay gọi:
- Này này, ông Sa-môn ơi! Ông sống lại đi! Tôi sẽ cho ông ăn.
Tôn giả Tân-đầu-lô liền mở mắt, ngồi ngang dậy. Nan-đà liền lấy bánh cho tôn giả, nhưng lại nghĩ:
Mấy cái bánh này to quá! Ta sẽ làm cái khác nhỏ hơn cho ông ta.
Bà lấy chút ít bột làm cái bánh khác. Lạ thay, cái bánh cứ lớn dần, lớn dần, bà ta nghĩ: chiếc bánh này to, kỳ quá, ta phải làm lại cái khác nhỏ hơn.
Thế nhưng, cái bánh sau vẫn cứ to, bà đành lấy cái bánh trước đưa cho tôn giả. Tôn giả bước tới nhưng lại hóa cho tất cả bánh trong rỗ dính liền với nhau. Nan-đà bực bội trách:
- Ông Tỳ-kheo! Ông muốn ăn bao nhiêu thì cứ lấy mà ăn, đừng làm phiền tôi nữa.
Tôn giả đáp:
Này đại tỷ! Đại tỷ nên biết, ta không cần ăn, chỉ muốn bà nghe nói thôi.
Nan-đà hỏi:
- Ông muốn nói điều gì?
Tôn giả áp:
- Bây giờ bà hãy mang rổ bánh này đến chổ Phật. nếu Đức Phật dạy bảo điều gì, chúng ta sẽ cùng nhau vâng làm.
Nan-đà đáp:
- Việc này rất hay!
Nói rồi, Nan-đà tự tay mang rổ bánh theo chân tôn giả đến chổ Đức Phật, quỳ lạy Phật. Lúc bấy giờ, Tân-đầu-lô bạch lên Đức Thế Tôn:
- Bà Nan-đà đây là em của trưởng giả Bạt-đề, có tính tham lam keo kiệt, không chịu bố thí cho người khác. Xin Thế Tôn thuyết pháp cho bà ta nghe mà phát lòng tin mạnh mẽ để được khai ngộ.
Đức Phật liền bảo:
- Này Nan-đà! Ngươi hãy đem bánh cúng Như Lai và các Tỳ-kheo Tăng đi!
Nan-đà vâng theo lời Phật liền dâng bánh cúng Phật và các Tỳ-kheo Tăng mà vẫn không hết bánh. Đức Phật liền bào Nan-đà cúng thêm cho Đức Phật và Tăng chúng lần nữa, nhưng bánh vẫn còn.
Đức Thế Tôn liền bảo Nan-đà đem bánh qua cúng chúng Tỳ-kheo Ni, Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di. Nan-đà cúng khắp mọi chỗ theo lời Phật dạy mà bánh vẫn còn. Bà trở về bạch Phật, Đức Phật dạy tiếp:
- Ngươi hãy đem bánh thí cho những người nghèo nàn.
Thí xong vẫn còn bánh. Cuối cùng, Thế Tôn quyết định:
- Hãy đem bánh dư này bỏ ở chỗ đất sạch hoặc đặt vào trong chỗ nước cực sạch, vì sao ta bảo thế? Là vì ta không thấy có Sa-môn, Bà-la-môn, trời, người nào có thể tiêu thụ hết rổ bánh này trừ bậc Như Lai chí chơn đẳng chánh giác. Nan-đà thưa vâng.
Bà liền đem bánh bỏ vào trong nước sạch, tức thì có ngọn lửa phát ra. Nan-đà thấy thế sợ hãi, trở về chỗ Phật, lễ lạy và xin Phật chỉ dạy. Bây giờ, Đức Phật liền nói cho bà ta nghe về Thí, về Giới, Dục, Tưởng bất tịnh: Lậu là dơ uế, xuất gia là cần thiết. Đến đây, thấy tâm ý Nan-đà đã khai mở, Đức Phật liền nói luôn bốn pháp mà chư Phật Thế Tôn thường nói là Tứ đế. Nghe xong, Nan-đà hoan hỷ nguyện quy y Tam bảo.
Bà bạch cùng Đức Thế Tôn:
-Con hết lòng kính thờ Tam bảo, cúng dường chúng Tăng.
Bạch xong, Nan-đà từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính lễ Phật, rồi lui về.
Thế là do sự giáo hóa khéo léo của bốn vị tôn giả mà hai tâm hồn đại keo kiệt đã hoán đỗi thành tâm hồn của đại thí chủ.
Thích nữ Diệu Huệ (dịch)
(Trích: Tập san Suối Nguồn số 14)