
TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TÀI
( 1912 – 1985 )
Nhân lễ tưởng niệm lần thứ 25, Hòa Thượng Thích Thiện Tài – Chứng Minh Ban Trị Sự Phật Giáo tỉnh Đồng Tháp viên tịch, xin có đôi dòng mạo muội viết lại tiểu sử đời Ngài, mong diễn bày công hạnh cao cả của một bậc Đại Lão Hòa Thượng, đã cống hiến cuộc đời vì Đạo Pháp – Dân Tộc.
“ Cao Lãnh địa linh sanh nhân kiệt
Bửu Lâm cổ tự xuất danh Tăng ”
Hòa Thượng Thích Thiện Tài, húy Hồng Thanh, tự Ngộ Tài Pháp Bửu, thế danh Trần Văn Ba, sinh năm Nhâm Tý 1912, tại làng Bình Hàng Trung, tổng Phong Nẩm, quận Cao Lãnh, hạt Sa Đéc. Hòa Thượng sinh ra trong một gia đình nho phong, thân phụ là Trần Văn Tần, thân mẫu là Bùi Thị Ơn. Gia đình chỉ có hai chị em, thuở nhỏ Ngài hay thường đau yếu. Nghe danh Hòa Thượng Phổ Lý hiệu Như Liễn, dòng Lâm Tế Đạo Bổn Nguyên… đời 39 trụ trì Tổ Đình Bửu Lâm (làng Bình Hàng Trung) đạo cao đức trọng, có tài trị lành bách bệnh, cha mẹ đem Ngài vào chùa xuất gia với Hòa Thượng trụ trì, lúc đó Ngài mới năm tuổi. Một thời gian sau, Ngài hết bệnh, cha mẹ đem Ngài về nhà vì hai ông bà chỉ có Ngài là con trai duy nhất. Có lẽ thiện căn đã vun bồi từ nhiều kiếp, khi về nhà Ngài trở bệnh nặng hơn nên cha mẹ phải đem trở vào chùa và cho Ngài tu học tiếp tục, năm đó Ngài được 7 tuổi.
Năm tháng dần trôi, qua mười năm tu học với Bổn Sư là Hòa Thượng Phổ Lý, chú tiểu đau yếu ngày nào đã được 17 tuổi, chí nguyện cũng rộng lớn cao xa cho nên Ngài xin Hòa Thượng Bổn Sư đến tham học với pháp sư Bửu Chung (chùa Phước Long - Sa Đéc) và Hòa Thượng Chánh Thành (chùa Vạn An - Sa Đéc).
Phong trào chấn hưng Phật Giáo miền Nam diễn ra sôi nổi dưới sự lãnh đạo tài tình của Hòa Thượng Khánh Hòa và Chư Tôn Túc, để sau đó , Trường Phật Học Lưỡng Xuyên khai giảng, đào tạo thế hệ Tăng tài kế thừa mạng mạch Phật Pháp. Với chí cả tham phương cầu học, Hòa Thượng lại quảy gói hành trang, không quản ngại dặm đường gian khổ, đến cầu học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên. Năm tháng cùng chung đèn sách với các vị Bửu Đạt, Huệ Phương … Hòa Thượng không ngừng lưu tâm ôn tầm bối diệp.
Năm 1944, Hòa Thượng làm Chánh Na kiêm Pháp sư tại Trường Hương chùa Hội Phước (Nha Mân – Sa Đéc).
Đến năm 1945, đất nước gặp lúc chiến tranh tàn khốc nên Phật sự lớp gia giáo chùa Hội Phước ngưng hoạt động. Ngài cùng Hòa Thượng Hành Trụ, Hòa Thượng Thiện Tường về chùa Tăng Già và Giác Nguyên tiếp Tăng độ chúng. Ngài luôn giữ nhiệm vụ Pháp sư cho những khóa an cư tại đây. Trong thời kỳ này Hòa Thượng Đạt Tỷ - Hoằng Đức mời Ngài kế truyền Tổ vị tại chùa Bình Hòa ( sau này Hòa Thượng Trí Thượng làm trụ trì) và ban cho pháp hiệu Ngộ Tài - Pháp Bửu, đời thứ 39 dòng Tổ Đạo Giới Định Tông…
Năm 1947, Hòa Thượng Phổ Lý vì tuổi cao sức yếu, Phật sự chùa Tổ quá nhiều nên Hòa Thượng gọi Ngài về. Không bao lâu, Hòa Thượng Bổn Sư viên tịch, Ngài kế thừa trụ trì chùa Tổ Bửu Lâm.
Mảnh Tăng bào qua lại đó đây, gót Tăng sĩ ngày đêm dạo khắp vừa tham phương cầu học, vừa lo hoằng pháp độ sanh, Hòa Thượng vang danh khắp miền Đồng Tháp nói riêng và miền Tây Nam bộ nói chung. Chư Tăng bấy giờ tôn xưng Ngài là “ Giá na bất khuyết” bởi sự lý viên dung toàn đủ nơi Ngài.
Năm 1951, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập, Hòa Thượng được cử làm Trị Sự Trưởng GHTG tỉnh Kiến Phong.
Sau thời Pháp nạn 1963, PGVN bước vào giai đoạn mới: GHPGVNTN được thành lập năm 1964, Hòa Thượng được suy cử làm Chánh Đại Diện Phật Giáo tỉnh Kiến Phong (nay là Thành phố Cao Lãnh – tỉnh Đồng Tháp) suốt ba nhiệm kỳ cho đến ngày giải phóng đất nước.
Năm 1975, đoàn tàu Phật Giáo Việt Nam lại rẽ vào một khúc quanh mới một giai đoạn lịch sử vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam : thống nhất toàn vẹn lãnh thổ sau những năm dài đầy chiến tranh tang tóc đã “ rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Hòa trong không khí sôi động phát triển của đất nước, chư tôn Hòa Thượng, chư Thượng Tọa lại một lần nữa tiến tới sự thống nhất Phật Giáo Việt Nam : “ Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức”. Sau đại hội thống nhất GHPGVN, năm 1981, GHPG tỉnh Đồng Tháp lúc bấy giờ cũng được thành lập năm 1982, sớm nhất trong các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Hòa Thượng được Tăng Ni, Phật tử suy tôn làm Chứng Minh tỉnh hội Phật Giáo Đồng Tháp nhiệm kỳ I (1982 – 1986).
Giới hạnh trang nghiêm xứng ngôi Long Tượng, Ngài đã được thỉnh làm đàn đầu Hòa Thượng của nhiều giới đàn trong tỉnh và ngoài tỉnh.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, niên kỷ Hòa Thượng càng ngày càng cao thì công đức phụng sự Phật Pháp, phục vụ chúng sanh cũng càng vô lượng. Ngoài việc giáo dưỡng đồ chúng tu học tại chùa Bửu Lâm, Hòa Thượng còn trùng tu rất nhiều ngôi Tam Bảo. Năm 1967, Ngài đã kiến tạo từ một ngôi thảo am đơn sơ ở cạnh “Miếu Trời Sanh” do Hòa Thượng Thoại dựng, trở thành ngôi chùa Hòa Long trang nghiêm thanh tịnh và bổ nhiệm TT Thiện Hiếu làm trụ trì. Sau đó, Ngài tiếp nhận chùa Linh Phước năm 1968, giao quyền trụ trì cho TT Thiện Chơn.
Năm 1969, HT nhận chùa Vạn Phước (xã Tân Khánh Đông – tỉnh Sa Đéc) và trùng tu thành ngôi phạm vũ huy hoàng như ngày hôm nay. Hòa Thượng đã bổ nhiệm thầy Thiện Hạnh về tiếp nhận trụ trì .
Trong chiến tranh ngôi chùa Tổ bị tàn phá hoàn toàn, năm 1976 Hòa Thượng lại ra sức trùng tu chánh điện. Năm 1984, tiếp tục trùng tu hậu tổ, xây dựng lại nhà Đông, nhà trù, Tăng xá …
Trong kháng chiến chống Pháp - Mỹ, Hòa Thượng đã tích cực tham gia đóng góp vật dụng giúp cách mạng, nuôi dấu cán bộ, vận động quần chúng ủng hộ kháng chiến và rất nhiều lần cứu gỡ anh em cán bộ bị giặc bao vây, bắt giam, tù đày. Dù trải qua những năm tháng khó khăn gian khổ nhất, Hòa Thượng vẫn kiên trì không nản lòng. Ông Nguyễn Xuân Trường (nguyên chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp) cũng có lời khen ngợi Hòa Thượng đạo tâm, đạo hạnh toàn vẹn đã làm tốt đạo, đẹp đời.
Năm 1978, Hòa Thượng giao chùa Tổ cho Hòa Thượng Chơn Hỷ, hiệu Nhật Quang (quý tử của HT Bửu Thành – Hồng Đệ, chùa Bồng Lai núi Cô Tô – An Giang). Từ đó, Hòa Thượng nhập thất tịnh tu và chỉ ra thất để chứng minh đàn tràng do tỉnh hội Phật Giáo các tỉnh thành tổ chức cho đến ngày thâu thần tịch diệt.
“Tòng lâm thạch trụ dù vắng bóng
Giá Na bất khuyết hạnh vẫn còn”
Qua bao mùa mưa nắng, qua mấy lần cuộc thế đổi thay, Phật Giáo Việt Nam suy thịnh theo từng sự biến thiên của lịch sử nước nhà. Nhưng ở Hòa Thượng vẫn một mực từ hòa, tùy duyên bất biến, cống hiến cuộc đời phụng sự giáo hội, phục vụ chúng sanh. Dòng đời sinh diệt vô thường mà bản tâm Hòa Thượng vẫn như như, hằng lặng mà chiếu soi muôn vạn pháp. Thế nhưng, thân tứ đại mượn các duyên chung hợp đến một ngày cũng phải rã tan, Hòa Thượng sau 7 ngày lâm bệnh đã an nhiên thâu thần nhập diệt tại Trường Hạ chùa Phước Hưng (thị xã Sa Đéc - tỉnh Đồng Tháp) vào lúc 5 giờ chiều ngày 14 / 6/ 1985, trụ thế 72 tuổi, hạ lạp 52 mùa, để lại lòng kính tiếc vô vàn cho Giáo Hội, Tăng Ni, Phật Tử tỉnh Đồng Tháp nói riêng và miền Tây Nam Bộ nói chung.
“Ba y một bát du phương hóa
Muôn dặm nghìn nhà hạnh lợi tha
Hòa Thượng viên tịch bao mùa hạ
Nhưng vẫn còn đây hương Đàm hoa”
Cuộc đời của Hòa Thượng đã trải qua những chặng đường cam go ngặt nghèo nhất của lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Cống hiến - phục vụ - phụng sự cho gíáo hội, đất nước dân tộc phải chăng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời Ngài. Hơn 50 năm qua, Hòa Thượng đã thể hiện hạnh nguyện lợi sanh không mệt mỏi, tiếp độ giáo dưỡng nhiều môn nhân đệ tử xuất gia và tại gia. Ngày nay, hoa Ưu Đàm đã rụng nhưng hương giáo giới vẫn còn đây, nhiều đệ tử của Hòa Thượng đã noi gương bi nguyện thiết tha của Ngài, tu học tinh chuyên, gìn truyền Tổ Aán.
Trăng vẫn sáng từ ngàn xưa cho mãi đến ngàn sau, như đạo hạnh trọn vẹn của Hòa Thượng vẫn tỏa chiếu trên suốt cuộc đời hành đạo của hàng Tăng Ni hậu học. Hôm nay, hàng môn nhơn pháp quyến kính thành cung thiết trai đàn, kiền thỉnh Chư Tôn thắp nén tâm hương trong ngày lễ tưởng niệm lần thứ 25 ngày Hòa Thượng thâu thần tịch diệt, cùng ngỏ đôi dòng thô thiển nhắc lại cuộc đời Ngài. Tuy vẫn chưa gột tả hết toàn chân dung bậc Đại Lão Hòa Thượng mà cả cuộc đời đã cống hiến cho đạo pháp, dân tộc, quê hương như Toàn Nhật Thiền sư đã nói :
“ Lưng mang bức tượng Di Đà
Chữ trung chữ hiếu việc nhà vẹn phân
Dù cho đi trọn đường trần
Đạo tâm há dễ một lần phôi pha”
Nhưng mong rằng lòng thành bi thiết tưởng nhớ Hòa Thượng sẽ nói lên được trọn vẹn tất lòng kính quí một bậc thạch trụ tòng lâm.
Nam mô Bửu Lâm đường thượng từ Lâm Tế chánh tông tứ thập thế huý Hồng Thanh thượng Thiện hạ Tài, Hòa Thượng Giác Linh ai lân nhã giám.
Trí Hải