Thứ Ba, 08 2016 02:51 CH
中国的
Đại Tạng Kinh Việt Nam
01/01/2013 | 10:27 SA

Đại Tng Vit Nam - Dch Kinh Pht Giáo 

Vietnamese Tripitaka - Buddhist Sutra Translation

TU QUANG WISDOM LIGHT FOUNDATION INC.

---o0o---

 

GIƠI THIỆU LUẬN TẬP 25 - Nguyên Huệ

Tạng Luận của Đại Tạng Kinh Tuệ Quang: (Đại Tạng Kinh tiếng Việt) được Việt dịch dựa theo bố cục nơi Tạng Luận của Đại Tạng Kinh Đại Chánh Tân Tu (ĐTK/ĐCTT) gồm 8 tập, từ Tập 25 đến Tập 32 và chia làm 5 Bộ:

1. Bộ Thích Kinh Luận.

2. Bộ Tỳ Đàm.

3. Bộ Trung Quán.

4. Bộ Du Già.

5. Bộ Luận Tập.

Khái niệm Bộ ở đây cũng giống như nơi Tạng Kinh, tức tập hợp các Luận được Hán dịch cùng loại hoặc đồng dạng.

Bộ Thích Kinh Luận gồm Tập 25 và 1/3 Tập 26, mang số hiệu từ 1505 đến 1535, tập hợp giới thiệu các Luận với nội dụng là giải thích Kinh: Hoặc giải thích tóm lược, trích dẫn, hoặc giải thích theo hướng quảng diễn, hoặc lại giải thích các Luận tụng, Luận thích. Đây là sự phát triển mang tính thuận hợp trong quá trình hoằng hóa chánh pháp, được thực hiện do các vị Bồ tát, Luận sư nổi tiếng của Phật giáo Bắc truyền như Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Công Đức Thí, Thân Quang, Đại Vực Long, Kim Cương Tiên v.v…, mở đường cho công việc Sớ giải, giảng luận về Kinh, Luật, Luận do các nhà Phật học nổi tiếng của Phật giáo Trung Hoa đảm trách, tạo nên sắc thái hết sức phong phú cho Hán tạng. Chúng tôi xin giới thiệu tóm lược nội dung từng tập nơi Bộ Thích Kinh Luận:

 

Tập 25

 

Tập 25 tập hợp giới thiệu các tác phẩm Luận Thích mang số hiệu từ 1505 đến 1518, có thể chia làm 2 phần: Từ số hiệu 1505 đến 1508 là các Luận giải thích Kinh theo hướng trích dẫn, tổng hợp, được Hán dịch trong giai đoạn đầu. Từ số hiệu 1509 đến 1518 là các Luận giải thích Kinh theo hướng quảng diễn về các Kinh cụ thể, ở đây là giải thích Kinh Đại Phẩm Bát Nhã (N0 1509) và Kinh Kim Cương (N0 1510 -> N0 1515)

1. Các Luận giải thích Kinh theo hướng trích dẫn – tổng hợp:

* Hai Luận số hiệu 1505 (Tứ A Hàm Mộ Sao Giải) và 1506 (Luận Tam Pháp Độ) là 2 bản Hán dịch từ một bản tiếng Phạn, tác giả là A La Hán Bà Tố Bạt Đà (Sơn Hiền). Bản 1 (N0 1505) do Đại sư Cưu Ma La Phật Đề Hán dịch vào đời Phù Tần (351-384) gồm 2 quyển. Bản 2 (N0 1506) do Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà Hán dịch vào cuối thế kỷ 4 TL đời Đông Tấn (317-419), gồm 3 quyển. (Đại sư Cù Đàm Tăng Già Đề Bà cũng là người Hán dịch Kinh Trung A HàmTăng Nhất A Hàm).

Bản 1 (N0 1505) vì được dịch trong giai đoạn đầu, nên câu văn dịch chưa đạt, chỉ có giá trị tham khảo.

Bản 2 (N0 1506), ngay nơi tên Luận (Luận Tam Pháp Độ) cũng hợp với nội dung của Luận hơn. Tam Pháp Độ nghĩa là các Chân độ của ba Pháp. Chân độ (Phạn: Khan da) còn gọi là Kiền độ (Tích tụ, nhóm). Tức căn cứ, trích dẫn từ bốn bộ A Hàm, tác giả lần lượt giải thích về 9 Chân độ (nhóm) của 3 Pháp.

3 Pháp Đức, Ác, Nương dựa. 3 Chân độ của Đức là: Thí, Giới, Tu. 3 Chân độ của ÁcHành ác, Ái, Vô minh. 3 Chân độ của Nương dựaẤm, Giới, Nhập. Mỗi Chân độ đều có các chi tiết và đều được giải thích theo khung 3 pháp. Ví dụ: Ấm là gồm Sắc ấm, Hành ấm và Tri ấm (Thọ ấm, Tưởng ấm, Thức ấm) v.v…

* Luận Phân Biệt Công Đức (N0 1507): Không rõ tác giả cùng người Hán dịch. Bản Hán dịch hiện có trong ĐTK/ĐCTT là một bản sao chép có từ đời Hậu Hán (25-220), gồm 5 quyển:

3 quyển 1, 2, 3 là giải thích về một số điểm chính nơi 4 phẩm đầu của Kinh Tăng Nhất A Hàm, trong đó, một vài đoạn do được bàn rộng, đã có giá trị đáng kể về sử liệu cho công việc tìm hiểu quá trình kết tập kinh điển, nhất là kinh điển của Phật giáo Bắc truyền. Nơi bản Việt dịch tác phẩm Dị Tông Luận do mình thực hiện, Hòa thượng Trí Quang đã dịch dẫn 2 đoạn nơi quyển 1, và 2 của Luận Phân Biệt Công Đức, xem như là những tư liệu tham khảo có giá trị. (Xem: Dị Tông Luận, H.th Trí Quang dịch, giải, bản in 1995, trang 14-16).

2 quyển 4, 5 là giới thiệu sự nghiệp cùng công đức tu hành nổi bật nơi các vị Đại đệ tử của Đức Phật (Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Kiều Trần Như, A Nan, Nan Đà, A Na Luật, La Vân, Ca Chiên Diên, Ưu Ba Ly v.v…). Câu văn Hán dịch đã có sự nhuần nhuyễn, thuận hợp, nên có nhà nghiên cứu đã cho Luận Phân Biệt Công Đức phải được Hán dịch vào đời Đông Tấn (317-419).

* N0 1508 (Kinh A Hàm Khẩu Giải Thập Nhị Nhân Duyên): Do Ưu bà tắc A Huyền cùng Sa môn Nghiêm Phật Điều Hán dịch vào đời Hậu Hán (25-220). Đây là một trong những bản Kinh, Luận ngắn đã được Hán dịch sớm nhất của Phật học Trung Quốc. Nội dung của Luận là giải thích về mười hai nhân duyên và một số nhóm pháp liên hệ (Mười hai nhân duyên trong, ngoài cùng nơi ba đời, năm đại, năm ấm, mười tám chủng v.v…). An Huyền là vị Cư sĩ người nước ngoài đầu tiên tham gia vào công việc Hán dịch kinh điển. Còn Nghiêm Phật Điều hầu như là vị Tăng sĩ Trung Hoa đầu tiên tham gia vào công việc ấy. Cứ xem tên gọi của 12 nhân duyên được dịch trong Luận này cũng đủ thấy tính chất mở đầu, dò dẫm trong công việc chuyển dịch – sử dụng các thuật ngữ Phật học nơi giai đoạn đầu:

1. Gốc là si ám (Vô minh)

2. Hành (Hành)

3. Thức (Thức)

4. Danh sắc (Danh sắc)

5. Lục suy (Lục nhập)

6. Sở cánh (Xúc)

7. Thống (Thọ)

8. Ái (Ái)

9. Cầu (Thủ)

10. Đắc (Hữu)

11 Sinh (Sinh)

12. Lão bệnh tử (Lão tử)

(ĐTK/ĐCTT, T25, N0 1508, trang 53A).

2. Các Luận giải thích Kinh theo hướng quảng diễn v.v…:

* N0 1509 (Luận Đại Trí Độ): Luận Đại Trí Độ (Phạn: Mahàpra-jnàpàramitásastra), tác giả là Bồ tát Long Thọ (Nàgàrjuna) Hán dịch là Pháp Cưu Ma La Thập (ĐTK/ĐCTT, T25, N0 1509, 100 quyển, trang 57-756). Với số lượng gồm 100 quyển, tác giả là Đại sĩ Long Thọ, một gương mặt Luận sư vào hàng kiệt xuất của Phật giáo phát triển, từ lâu Luận Đại Trí Độ đã được xem là bộ Luận vĩ đại bậc nhất của Phật giáo Bắc truyền. Tuy bản thân của Luận chỉ là giải thích Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật (ĐTK/ĐCTT, T8, N0 223, 27 quyển, 90 phẩm, Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch. Kinh này tương đương với Hội thứ 2, từ quyển 401 –> 478 nơi Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật gồm 600 quyển, do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch, N0 220, ĐTK/ĐCTT, T5,6,7), nhưng dung lượng của Luận lại vô cùng bao quát, đề cập tới nhiều lãnh vực, nhiều vấn đề, khối lượng tư liệu được nêu dẫn cũng hết sức phong phú, đáng tin cậy, tất cả đã hợp lại để nâng giá trị của tác phẩm lên tầm cao của một Bộ Bách Khoa Toàn Thư về Phật học.

Luận Đại Trí Độ được Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch vào đầu thế kỷ thứ 5 TL, đời Diêu Tần (384-417), và đã có một ảnh hưởng rất lớn trong quá trình phát triển của Phật học Trung Quốc. Tông Tam Luận chẳng hạn, ngoài 3 bộ Luận căn bản là Trung Luận, Thập Nhị Môn LuậnBách Luận (Hai Luận trước do Bồ tát Long Thọ viết, Luận sau là tác phẩm của Bồ tát Đề Bà, cả ba đều do Pháp sư Cưu Ma La Thập Hán dịch: ĐTK/ĐCTT, T30, N0 1564, 1568, 1569) đã gồm luôn Luận Đại Trí Độ vào phần Lập giáo của Tông mình, nên còn gọi là Tông Tứ Luận.

Ở Việt Nam, Luận Đại Trí Độ đã được giới Phật học quan tâm khá sớm. Chúng ta đã có hai bản Việt dịch Luận Đại Trí Độ của Sư bà Diệu Không và của Hòa thượng Trung Quán, gần đây là bản Việt dịch công phu, có giá trị hơn hết của Hòa thượng Thiện Siêu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nan xuất bản, gồm 5 tập. (Chúng tôi sử dụng bản Việt dịch ấy cho Đại Tạng Kinh này)

* Các Luận từ N0 1510 đến 1515 là phần Luận Thích Kinh Kim Cương:

Kinh Kim Cương nói đủ là Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật (Phạn: Vajracchedikà – prajnàpàramita – Sùtra) là một bản kinh ngắn của Phật giáo Bắc truyền, nhưng phải nói là hết sức đặc biệt. Về văn bản, Kinh Kim Cương vốn là 1 Hội trong 16 Hội của Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa, gồm 600 quyển do Pháp sư Huyền Tráng Hán dịch. Đó là Hội thứ 9, quyển 577, mang tên Phần Năng Đoạn Kim Cương. Do tính chất đặc biệt nên đã được tách riêng ra rất sớm và biệt hành, lại được các vị Bồ tát, Luận sư của Phật giáo Ấn Độ (Vô Trước, Thế Thân, Kim Cương Tiên, Công Đức Thí) dốc sức giải thích, quảng diễn, tạo tụng, tất cả đều được Hán dịch và tập hợp nơi Bộ Thích Kinh Luận này.

+ N0 1510: Luận Kim Cương Bát Nhã: Tác giả là Bồ tát Vô Trước, Hán dịch là Đại sư Đạt Ma Cấp Đa, dịch vào đời Tùy (580-618) gồm 2 quyển.

+ N0 1510 (Biệt bản): Luận Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật: Tác giả là Bồ tát Vô Trước, Hán dịch là Đại sư Đạt Ma Ngập Đa, cũng dịch vào đời Tùy, gồm 3 quyển.

Về đại thể, 2 Luận N0 15101510 (Biệt bản) không khác nhau, nhưng Luận 1510 (Biệt bản) có số trang nhiều hơn (vì có dẫn toàn văn của bản Kinh theo Hán dịch, trong khi Luận 1510 chỉ lược dẫn) và dựa theo một bố cục thuận hợp hơn rất nhiều. Nếu hai Đại sư Cấp Đa và Ngập Đa là một người thì Luận 1510 (Biệt bản) hẳn là đã được dịch sau.

Căn cứ theo nội dung của Kinh Kim Cương, Bồ tát Vô Trước đã lập ra 7 Nghĩa cuù, mỗi nghĩa cú tương ưng với một đoạn Kinh, theo thứ lớp trước sau, để giải thích nội dung Kinh. 7 Nghĩa cú là:

Nghĩa1: Chủng tánh không đoạn.

Nghĩa2: Phát khởi hành tướng.

Nghĩa3: Nêu trụ xứ của hành.

Nghĩa4: Đối trị.

Nghĩa5: Không lỗi.

Nghĩa6: Địa.

Nghĩa7: Lập danh.

6 Nghĩa cú trước là hiển bày về đối tượng tạo tác rốt ráo của Bồ tát. Nghĩa cú thứ 7 (Lập danh) là giải thích tên Kinh. Nơi 6 Nghĩa cú kia, đáng chú ý nhất là Nghĩa cú thứ 3: Nêu trụ xứ của hành, gồm 18 chi tiết, theo đấy lần lượt giải thích ý nghĩa của Kinh.

+ N0 1511: Luận Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật: Tác giả là Bồ tát Thế Thân, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, dịch vào khoảng đầu thế kỷ 6 TL, đời Nguyên Ngụy (339-556), gồm 3 quyển.

Bồ tát Thế Thân đã dựa vào ý nghĩa của Kinh Kim Cương, tạo ra 80 bài kệ, trong đó:

2 kệ đầu (8 câu, 7 chữ): Là bày tỏ sự quy kính Tam bảo, tán dương đức quý của Bồ tát.

1 kệ sau cùng (4 câu, 7 chữ): Tán thán, hồi hướng.

77 kệ còn lại (308 câu, 5 chữ): Tương hợp với 12 phần Kinh chính, theo thứ lớp lần lượt giải thích nội dung của Kinh. Bồ tát Thế Thân còn cố gắng tạo sự nối kết nơi 12 phần Kinh chính ấy, kể cả những đoạn Kinh chi tiết của mỗi mỗi phần Kinh chính kia, là những thắc mắc, nghi vấn, dẫn đến những giải thích, nêu dụ tiếp theo cho từng đoạn Kinh đó.

+ N0 1512: Luận Kim Cương Tiên: Tác giả là Luận sư Kim Cương Tiên, Hán dịch là Đại sư Bồ Đề Lưu Chi, gồm 10 quyển, nội dung là giải thích Luận Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật của Bồ tát Thế Thân (N0 1511) kể trên.

Phần mở đầu, Luận sư Kim Cương Tiên đã nêu ra một số vấn đề tổng quát có tính Dẫn nhập (8 Bộ Bát Nhã, dùng 10 thứ nghĩa đối trị 10 thứ chướng ngại, giải thích tên kinh, nêu một vài điểm tiêu biểu về Luận và Luận chủ v.v…). Tiếp theo là giải thích 2 bài kệ mở đầu nơi Luận gốc (Tác phẩm của Bồ tát Thế Thân). Sau đấy là dựa theo 12 phần kinh chính như Luận gốc đã phân để lần lượt giải thích, quảng diễn. 12 phần Kinh này, Luận gốc không nêu tên, Luận sư Kim Cương Tiên đã đặt tên, tùy theo độ dài và nội dung của từng phần Kinh chính ấy, phân ra thành những đoạn Kinh ngắn. 12 phần của Kinh Kim Cương là:

Phần 1: Phần Tự.

Phần 2: Phần Khéo hộ niệm.

Phần 3: Phần Trụ.

Phần 4: Phần Tu hành như thật.

Phần 5: Phần Như Lai không phải là tướng hữu vi.

Phần 6: Phần Nói về ngã không, pháp không (Phần này có 2 đoạn kinh ngắn).

Phần 7: Phần Đối chiếu công đức đầy đủ (Gồm 9 đoạn kinh ngắn).

Phần 8: Phần Nêu rõ tất cả chúng sinh đều có Phật tánh nơi chân như (gồm 2 đoạn kinh ngắn).

Phần 9: Phần Nói về lợi ích.

Phần 10: Phần Đoạn trừ nghi (Gồm 16 đoạn kinh ngắn).

Phần 11: Phần Nêu đạo không trụ.

Phần 12: Phần Lưu thông.

Nơi mỗi phần kể trên (trừ Phần Tự, giải thích về năm chi tiết mở đầu) đã được giải thích theo trình tự:

+ Nêu lý do về sự nối tiếp của phần Kinh tiếp theo.

+ Giải thích những điểm tiêu biểu của phần Kinh ấy.

+ Giải thích một số điểm chính nơi Luận gốc.

+ Giải thích các bài kệ của Luận gốc viết về phần Kinh, đoạn Kinh ấy.

Sau cùng là giải thích bài kệ (4 câu 7 chữ) nơi cuối Luận gốc.

+ N0 1513: Luận Thích Kinh Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa: Bồ tát Vô Trước viết tụng, Bồ tát Thế Thân giải thích, Đại sư Nghĩa Tịnh (635-713) Hán dịch vào cuối thế kỷ 7 TL, đời Đường (618-906), gồm 3 quyển.

Ngoài việc giải thích Kinh, Bồ tát Vô Trước còn viết Tụng về Kinh Kim Cương (N0 1514, Đại sư Nghĩa Tịnh Hán dịch, gồm 76 bài kệ (304 câu) 5 chữ và 4 câu kệ 7 chữ). Bồ tát Thế Thân đã căn cứ theo thứ tự của các Kệ Tụng ấy, đối chiếu với những phần Kinh, đoạn Kinh tương ưng để lần lượt giải thích, bàn rộng.

+ N0 1515: Luận Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Phá Thủ Trước Bất Hoại Giả Danh: Tác giả là Bồ tát Công Đức Thí, Hán dịch là Đại sư Địa Bà Ha La (613-687), dịch vào đời Đường, gồm 2 quyển.

Bồ tát Công Đức Thí đã dựa theo thứ lớp nơi văn của Kinh Kim Cương, phân thành những đoạn chính tiêu biểu để lần lượt giải thích, quảng diễn, trên tinh thần dung hợp giữa Tục đế và Chân đế, phá trừ chấp trước, soi sáng Chân nhưng không hủy hoại Tục. Như hai bài kệ ở cuối tác phẩm đã nêu rõ:

Tôi nay: Công Đức Thí

Vì phá các mê chấp

Mở bày môn Trung quán

Lược nêu nghĩa kinh này.

Nguyện các loài chúng sinh

Thấy nghe hoặc thọ trì

Chiếu chân không hoại tục

Tâm thấu tỏ, vô ngại.

* N0 1516: Luận Thánh Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Cửu Tụng Tinh Nghĩa: Tác giả là Bồ tát Thắng Đức Xích Y, Hán dịch là Đại sư Pháp Hộ (963-1058) dịch vào đời Triệu Tống (960-1276), gồm 2 quyển. Luận mở đầu với 4 bài kệ (16 câu 7 chữ), nêu một số đặc điểm của Trí Bát nhã Ba la mật. Tiếp theo là dẫn ra 9 Tụng (36 câu 5 chữ) và lần lượt giải thích, quảng diễn về “tinh nghĩa” của 9 Tụng ấy. Nơi Tụng thứ 8, khi giải thích về Quán, tác giả đã khai diễn theo hướng Mật giáo. (ĐTK/ĐCTT, T25, N0 1516, trang 899C-900A).

* N0 1517: Thích Luận Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Viên Tập Yếu Nghĩa: Tác giả: Bồ tát Đại Vực Long (Trần Na) viết Tụng, Bồ tát Tam Bảo Tôn giải thích, Đại sư Thi Hộ (cuối thế kỷ 10 TL) Hán dịch vào đời Triệu Tống, gồm 4 quyển.

Bồ tát Đại Vực Long đã dựa theo các Kinh Đại Phẩm Bát Nhã, Đạo Hành Bát Nhã v.v…, soạn ra Luận Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật Đa Viên Tập Yếu Nghĩa (N0 1518 cũng do Đại sư Thi Hộ Hán dịch, gồm 56 bài Tụng, 224 câu kệ 5 chữ, giải thích một số “yếu nghĩa” của Bát nhã theo quan điểm 3 tánh (Biến kế, Y tha, Viên thành). Tác phẩm của Bồ tát Tam Bảo Tôn là giải thích, quảng diễn 56 bài Tụng ấy.

Các bài kinh khác
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
- 10:28 SA | 01/01/2013
Hình ảnh cuộc đời Đức Phật Thích Ca  
XEM NHIỀU NHẤT
1/
06/06/2013 02:32 ( 12777 )
2/
14/01/2013 06:17 ( 11089 )
3/
06/06/2013 03:24 ( 8874 )
4/
22/06/2013 19:00 ( 8724 )
5/
12/01/2015 12:24 ( 8665 )
6/
10/03/2014 23:53 ( 8661 )
7/
05/06/2013 21:53 ( 8520 )
8/
06/06/2013 04:46 ( 7988 )
9/
14/01/2013 05:58 ( 7882 )
10/
24/08/2013 08:28 ( 7711 )
11/
14/01/2013 05:58 ( 7585 )
12/
14/01/2013 05:56 ( 7425 )
13/
06/06/2013 03:31 ( 6726 )
14/
13/01/2013 23:11 ( 6210 )
15/
23/09/2013 16:17 ( 6200 )
16/
10/03/2014 23:52 ( 6185 )
17/
14/01/2013 06:14 ( 6011 )
18/
14/01/2013 06:02 ( 5945 )
19/
29/07/2014 19:51 ( 5256 )
20/
08/06/2013 06:04 ( 4786 )
NHẠC PHẬT GIÁO
TRUY CẬP
Bạn là người truy cập thứ
: 21 182 964
Đang truy cập
: 469

Chinese Buddhism Pages
中国佛教网
http://www.foyuan.cn http://www.fod123.com http://www.hsfj.com http://www.pszj.org http://www.cnbuddhism.com http://www.foyue.net.cn http://www.21foxue.com http://www.foyin.com
http://www.putuoshan.org.cn http://www.fo114.net http://www.chinawts.com http://www.chinafo.org http://www.fjnet.com http://www.chinavegan.com http://www.fowang.com http://www.hongfasi.net